4 loại thực phẩm chữa táo bón an toàn cho phụ nữ có thai và trẻ em

Táo bón là một tình trạng phổ biến khi một người đi tiêu ít hơn 3 lần/ tuần. Phân thường cứng và vón cục, khi đi ngoài có thể bị đau. Triệu chứng này còn đặc biệt nhạy cảm với phụ nữ mang thai, phụ nữ sau sinh và trẻ em. Một số loại thuốc nhuận tràng và thuốc làm mềm phân được sử dụng có thể gây ra tác dụng phụ như tiêu chảy, đầy hơi và chướng bụng, về lâu dài có thể dẫn đến lệ thuộc. Cùng tìm hiểu các loại thực phẩm chữa táo bón an toàn cho phụ nữ có thai và trẻ em dưới đây để khỏi lo tác dụng phụ.

Cách tốt nhất để cải thiện tình trạng táo bón là thay đổi chế độ sinh hoạt. Trước hết là ăn nhiều thực phẩm chất xơ, uống nhiều nước và tập thể dục/ vận động nhiều hơn. Bài viết dưới đây sẽ giới thiệu những thực phẩm được nhiều người tin dùng như một biện pháp khắc phục táo bón tại nhà. Bạn nên thử chúng trước khi tìm đến các loại thuốc.

  1. Chữa táo bón bằng mật ong

Tại sao mật ong có thể chữa táo bón?

  • Theo Đông Y, mật ong có vị ngọt, tính bình, có tác dụng thông đại tràng. Nó cũng được coi như một chất bôi trơn tự nhiên giúp đào thải phân ra ngoài thuận lợi.

  • Theo Y học hiện đại, trong mật ong có chứa các thành phần giúp nhuận tràng như các phân tử đường có thể chuyển hóa thành các loại đường khác nhau như fructose thành glucose để dễ dàng tiêu hóa. Ngoài ra, mật ong cũng chứa nhiều loại nấm men, vi khuẩn có lợi để thúc đẩy quá trình tiêu hóa.

  • Mật ong chứa 17% là thủy phần (nước) nên nó có khả năng hấp thụ nước từ tế bào vào ruột nên làm mềm phân

  • Mật ong tăng cường chức năng co bóp của dạ dày, kích thích nhu động ruột cho tiêu hóa thuận lợi.

Các cách dùng mật ong khi bị táo bón

Dùng thụt hậu môn khi trẻ bị táo bón, không đào thải được phân. Cách này đặc biệt hữu dụng với trẻ em, kể cả trẻ sơ sinh cũng rất an toàn. 

Pha mật ong cùng nước ấm theo tỷ lệ 1:3. Lấy tăm bông thấm dung dịch rồi thoa đều vào hậu môn của trẻ. Trong trường hợp nặng có thể dùng xi-lanh nhỏ (bỏ đầu kim) hút dung dịch trên và tiến hành thụt rửa. Chú ý khi làm cần nhẹ nhàng và bơm từ từ tránh làm tổn thương đến hậu môn. 

Đây là cách cấp cứu tạm thời, tuy nhiên không nên dùng quá nhiều sẽ ảnh hưởng tới phản xạ rặn tự nhiên của trẻ. Cách điều trị về lâu dài là thay đổi chế độ sinh hoạt: tăng cường ăn rau, uống đủ nước và vận động điều độ. Ngoài ra, nếu tình trạng táo bón vẫn kéo dài và thường xuyên tái phát thì rất có thể trẻ đang bị mắc bệnh lý. Cha mẹ nên đưa trẻ đến gặp bác sỹ để thăm khám kịp thời.

Uống hằng ngày để cải thiện táo bón từ bên trong

Cách này chỉ sử dụng cho trẻ trên 1 tuổi vì trong mật ong có chứa một số nấm men có thể gây ngộ độc khi hệ tiêu hóa chưa hoàn thiện. Khi trẻ trên 1 tuổi lại hoàn toàn an toàn.

Đối với trẻ trên 1 tuổi: pha 1-2 thìa nhỏ mật ong với nước ấm, uống 3 cốc/ ngày trong khi bị táo bón. Giảm xuống 2 cốc/ ngày duy trì đều đặn từng đợt 1-1,5 tháng để phòng ngừa.

Đối với người trưởng thành: pha 2-3 thìa nhỏ mật ong với nước ấm, uống 3 cốc/ ngày trong khi bị táo bón. Giảm xuống 2 cốc/ ngày duy trì đều đặn từng đợt 1-2 tháng để phòng ngừa chứng táo bón quay trở lại.

  1. Sử dụng giấm táo

Giấm táo là một loại nước được lên men từ nước ép của quả táo. Nhiều người cho rằng uống hoặc ngâm giấm táo có thể giúp điều trị các vấn đề về tiêu hóa như táo bón.

Trong dấm táo chứa pectin - một loại chất xơ hòa tan. Pectin tăng độ mềm và thể tích phân. Do đó, nó cũng được sử dụng như một biện pháp tự nhiên để giảm các triệu chứng táo bón và tiêu chảy.

Tại Việt Nam, một số loại giấm táo được làm từ táo mèo - trong Y học cổ truyền còn gọi là Sơn Tra - một loại quả có vị ngọt, tính hơi ôn, quy vào kinh Tỳ, Vị và Can, có tác dụng trị đầy bụng, khó tiêu, rối loạn tiêu hóa,... 

Ngoài ra, nó cũng chứa một lượng nhỏ magie - một khoáng chất giúp thúc đẩy nhu động ruột đều đặn, đi đại tiện đều và giảm thiểu tình trạng táo bón.

  1. Xu hướng sử dụng các thực phẩm lên men

Ngày càng có nhiều bằng chứng khoa học về việc thực phẩm lên men tốt cho sức khỏe đường ruột. Nếu đang mắc phải táo bón, hãy cân nhắc đến sữa chua uống, dưa cải bắp, kim chi, dưa chua, kefir, natto, kombucha, miso,... vào danh sách thực phẩm hằng ngày.

Vậy điều gì đã làm cho những thực phẩm này trở thành một liều thuốc mạnh mẽ để giảm thiểu sự khó chịu trong hệ tiêu hóa? Đó chủ yếu phụ thuộc vào hàm lượng Probiotics (lợi khuẩn đường ruột) trong chúng. Các thực phẩm lên men chứa các vi khuẩn có lợi hoạt động.

Đường ruột là một bộ sưu tập hàng nghìn tỷ vi khuẩn. 95% chúng nằm tại ruột kết, giúp phân hủy thức ăn và điều chỉnh chức năng ruột. Khi chúng ta bị táo bón, đó có thể là một triệu chứng cho thấy sự mất cân bằng giữa vi khuẩn có lợi và vi khuẩn có hại trong ruột già. Thực phẩm lên men có thể tăng mật độ lợi khuẩn và giảm đáng kể hoạt động của hại khuẩn.

Cần chú ý để sử dụng thực phẩm lên men có hiệu quả thì chúng phải còn sống khi bạn ăn nó. Nên chọn các loại dưa muối chưa được chín và được lên men tự nhiên chứ không nên ngâm giấm. Hoặc các thực phẩm tiệt trùng, hun khói, nướng cũng sẽ tiêu diệt hết vi khuẩn còn sống.

  1. Chữa táo bón bằng mật ong lên men thế hệ mới- Khỏe từ đường ruột!

Gom toàn bộ ưu việt của 3 loại thực phẩm trên chúng ta được “mật ong lên men”, bằng cách lên men tự nhiên hỗn hợp “mật ong + giấm táo”.

Đây là công thức ưu việt giúp:

  • Bổ sung lợi khuẩn, ức chế hại khuẩn để cân bằng hệ vi sinh đường ruột

  • Quá trình lên men tiết ra nhiều vitamin, khoáng chất bồi bổ cơ thể

  • Kích thích nhu động ruột thuận lợi đào thải phân

  • Chữa lành các tổn thương trong đường ruột (đối với MOLM Nghệ riềng)

Nhờ những tác động tích cực tới đường ruột mà các triệu chứng táo bón cũng phải tránh xa. Đặc biệt, thực phẩm này hoàn toàn tự nhiên nên lành tính với mọi lứa tuổi, kể cả phụ nữ mang thai lẫn trẻ em (trên 1 tuổi).

Trên thị trường hiện nay có rất nhiều loại mật ong lên men. Trong đó, bạn nên tinh ý chọn các loại mật ong lên men bổ sung bào tử lợi khuẩn (Probiotics). Thay vì với cách lên men thông thường chỉ tận dụng được nấm men sẵn có trong mật ong thô, bạn sẽ có thêm nhiều lợi khuẩn cho đường ruột của mình. Bạn có thể tìm kiếm dạng sản phẩm này ở nước ngoài, còn nếu ở Việt Nam có thể chọn mật ong lên men MOLA (mật ong lên men bổ sung bào tử lợi khuẩn thế hệ mới). Ngoài ra, loại mật ong này còn kết hợp với các loại thảo dược như gừng, chanh, tỏi, nghệ, me rừng,... gia tăng lợi ích trong tăng đề kháng, điều trị dạ dày, detox cơ thể.

Để giúp các mẹ trị dứt điểm táo bón hãy xem thêm: Tác dụng của mật ong lên men

Những điều cần biết về phytoestrogen

Bạn đã nghe nói về phytoestrogen chưa? Các phân tử thực vật này, có thể hoạt động giống như estrogen trong cơ thể, là một từ thông dụng về dinh dưỡng trong thời kỳ tiền mãn kinh. 

Các nhà khoa học đã quan tâm đến việc phytoestrogen giúp ích như thế nào vì phụ nữ châu Á sau mãn kinh - những người ăn chế độ giàu phytoestrogen - ít bốc hỏa hơn phụ nữ Mỹ hoặc châu Âu.

Nhưng bằng chứng về việc ăn thực phẩm hoặc chất bổ sung giàu phytoestrogen có thể làm cho nhiều người nghi hoặc. Có thực sự đáng giá để bổ sung các hợp chất thực vật này trong thói quen ăn uống hàng ngày của phụ nữ để giúp giảm các triệu chứng không?

"Phyto" có nghĩa là "từ hoặc liên quan đến thực vật". Phytoestrogen là các phân tử thực vật có cấu trúc hóa học tương tự như estrogen. Chúng có thể “hoạt động” tương tự như estrogen trong cơ thể chúng ta, ví dụ, liên kết với các thụ thể estrogen trên tế bào.

Estrogen là một trong hai loại hormon chính suy giảm tự nhiên trong quá trình chuyển đổi qua thời kỳ mãn kinh. Sự sụt giảm estrogen này là nguyên nhân gây ra các triệu chứng khó chịu mà nhiều phụ nữ gặp phải như bốc hỏa, đổ mồ hôi ban đêm, mất ngủ và khô âm đạo.

Phytoestrogen có thể được chia thành hai loại chính: isoflavone và lignans.

Isoflavones 

Đậu nành là nguồn cung cấp isoflavone dồi dào và được nghiên cứu phổ biến nhất. Đậu nành (edamame), miso, hạt đậu nành, tempeh, đậu phụ, bột đậu nành, sữa đậu nành và các chất thay thế thịt làm từ đậu nành (như bánh mì kẹp thịt chay) đều là nguồn cung cấp isoflavone dồi dào.

Đậu gà và đậu xanh có chứa isoflavone, nhưng với lượng ít hơn nhiều so với đậu nành.

Cỏ ba lá đỏ là một loại đậu khác giàu isoflavone được sử dụng phổ biến cho các triệu chứng tiền mãn kinh. Nó thường được dùng ở dạng bổ sung, như viên nang, bột hoặc chất lỏng.

Lignans

Lignans được tìm thấy trong quả mọng, hạt (đặc biệt là hạt lanh), ngũ cốc, quả hạch và trái cây. Chúng không được nghiên cứu liên quan đến mãn kinh thường xuyên như isoflavone.

Hầu hết các nghiên cứu kiểm tra phytoestrogen cho thời kỳ mãn kinh sử dụng các hình thức bổ sung. Mặc dù không có khuyến cáo chính thức về liều lượng, nhưng một số nhà nghiên cứu đã khuyến nghị rằng bổ sung 40-50 mg isoflavone mỗi ngày là đủ để giúp giảm các triệu chứng. 

So sánh isoflavones và estrogen

Người ta biết rằng isoflavone hoạt động như phytoestrogen để thực hiện hoạt động giả nhiệt độ bằng cách liên kết với các thụ thể estrogen (ER) ở động vật có vú, và cũng có các hoạt động chống oxy hóa, chống ung thư, kháng khuẩn và chống viêm giống như các flavonoid khác. Daidzein và genistein là những isoflavone phổ biến nhất, có cấu trúc hóa học đặc trưng giống với cấu trúc của estrogen.

Mặc dù cấu trúc hóa học của isoflavone khác với cấu trúc hóa học của estrogen nội sinh, nhưng đặc điểm chung của chúng là một nhóm phenol, cho phép chúng gắn vào và kích hoạt các thụ thể estrogen (ER).Trong nhân tế bào của các mô đích, isoflavone liên kết với ER và điều chỉnh biểu hiện gen. Sự giống nhau giữa isoflavone với đồng dạng β-ER cao hơn xấp xỉ năm lần so với đồng dạng α-ER, trái ngược với estradiol (E2), sự tương đồng với cả hai loại thụ thể gần như giống nhau. Các β-ER chủ yếu nằm ở xương, phổi, tuyến tiền liệt, bàng quang tiết niệu, da và não, trong khi α-ER nằm phần lớn ở tuyến vú, tinh hoàn, tử cung, thận.

Những lo ngại về tác động tiêu cực tiềm ẩn của liệu pháp thay thế nội tiết tố được sử dụng để điều trị các triệu chứng mãn kinh đã khiến thực phẩm chức năng phytoestrogen được chú trọng.  Do đó, phụ nữ mãn kinh có thể tiếp xúc với liều lượng isoflavone cao. Mặc dù nhiều nghiên cứu báo cáo khả năng của chất bổ sung genistein trong việc giảm các triệu chứng mãn kinh, nhưng kết quả vẫn còn mơ hồ. 

Nói chung, việc bổ sung chế độ ăn uống có chứa isoflavone dẫn đến giảm tần suất bốc hỏa (10–20%). Các tác dụng isoflavone mạnh hơn được chú ý bởi những phụ nữ có tần suất xuất hiện các cơn bốc hỏa cao hơn. Một số nhà nghiên cứu xác định rằng chỉ những phụ nữ có thể sản xuất ra equol (được phát hiện trong nước tiểu) nhận thấy sự giảm các triệu chứng mãn kinh khi bổ sung isoflavone đậu nành.

Loãng xương được đặc trưng bởi khối lượng xương giảm và cấu trúc mô xương bị hư hỏng. Nó xảy ra chủ yếu ở phụ nữ và có liên quan đến sự lão hóa và thiếu hụt hormone. Các nghiên cứu thực tế về genistein cho thấy tác dụng tích cực đối với bệnh loãng xương. Genistein làm giảm các yếu tố tạo xương (ví dụ, collagen C-telopeptide) và tăng các yếu tố tạo xương (ví dụ, phosphatase kiềm của xương). Genistein cũng đối kháng một cách chọn lọc các tác dụng dị hóa của parathormone trong nguyên bào xương. Cơ chế tác động của isoflavone lên tế bào hủy xương có lẽ không phụ thuộc vào cơ chế estrogen, vì không có ER trong nhân tế bào hủy xương.

Kết quả của các nghiên cứu lâm sàng ngắn hạn (sáu tháng hoặc ít hơn) về ảnh hưởng của việc tăng lượng đậu tương đối với các dấu hiệu sinh hóa của quá trình hình thành và tiêu xương là không rõ ràng. Mặc dù một số nghiên cứu trên phụ nữ sau mãn kinh cho thấy rằng việc tăng lượng đậu nành, protein đậu nành, hoặc lượng isoflavone đậu nành sẽ cải thiện các dấu hiệu của quá trình hủy và hình thành xương hoặc giảm mất khối lượng xương. Sự khác biệt trong kết quả cũng được tìm thấy trong nhiều nghiên cứu khác, gần đây là nghiên cứu so sánh giữa phụ nữ mãn kinh từ Đài Loan và châu Âu. 

Để không chết vì các bệnh liên quan đến ung thư phổi

Bạn có biết, bệnh phổi là nguyên nhân giết chết 300.000 người Mỹ mỗi năm ( Nguồn: How not to die - Dr Michanel Greger). Là căn bệnh nằm trong top gây tử vong hàng đầu, chỉ sau bệnh tim. Bệnh phổi có nhiều loại, nhưng trong đó có 3 loại gây chết nhiều người nhất là là ung thư phổi, bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính (COPD), và bệnh hen phế quản ( hay còn gọi là bệnh hen suyễn).

Theo bác sĩ Michanel Greger và nhiều chuyên gia dinh dưỡng hàng đầu của Hoa Kỳ. Chúng ta hoàn toàn có thể tránh được bệnh phổi cũng như các bệnh khác nếu như thực hiện một chế độ ăn lành mạnh.( Chế độ ăn hoàn toàn thực vật toàn phần). Với mong muốn truyền tải lại kiến thức vô cùng quý báu trong cuốn sách bàn về Sức mạnh chữa lành của thực phẩm ( Tên tiếng anh How not to die) do nhà xuất bản trẻ xuất bản năm 2019. Sau đâu tôi xin tóm tắt những điểm chính giúp quý vị nắm được. Nếu quý vị quan tâm đến sức khỏe của mình một cách nghiêm túc. Hãy ra hiệu sách và mua ngay cuốn sách này để ủng hộ tác giả và nhà xuất bản. ( tên tiếng việt của sách là ĂN GÌ KHÔNG CHẾT).

Ăn thịt ( và các chế phẩm từ thịt) là nguyên nhân của hầu hết các bệnh ung thư & bệnh dịch

Đầu năm 2020 loài người chúng ta đang gồng mình chống chọi với bệnh viêm phổi Vũ Hán do virus Corona. Một bệnh dịch đang cướp đi sinh mạng của hơn 2000 người Trung Quốc và con số này còn tiếp tục tăng cho đến khi nào chúng ta tìm ra loại thuốc ngăn ngừa. Theo các trang thông tin đại chúng đư tin. Bệnh này được truyền từ một loại virus từ động vật sang người, cụ thể các bác sĩ đã chỉ đích danh là loại virus lai giữa con dơi và rắn từ chợ động vật Vũ Hán. Giá như loài người chúng ta không ăn động vật nhiều, nhất là động vật hoang dã thì rất có thể không có các bệnh dịch như. H5N1, SARS.... và giờ là nCOV - Viêm phổi Vũ Hán Corona

Tại sao có người không hút thuốc lá nhưng vẫn bị ung thư phổi?

Nền y học hiện đại và hiệp hội phổi Hoa Kỳ đã công nhận rằng hút thuốc lá là nguyên nhân của 90% người chết vì ung thư phổi. Điều này đã được công bố rộng rãi toàn thế giới. Ngày nay trên bao bì của các sản phẩm thuốc lá bắt buộc phải có khuyến cáo hút thuốc lá có hại cho phổi. Tuy nhiên có những người (nhất là phụ nữ) không hề hút thuốc lá bao giờ vẫn chết vì ung thư phổi. Ở Mỹ khoảng 1/4 số người ung thư phổi không phải vì nguyên nhân hút thuốc lá. Trong đó có môt số người bị do hút thuốc lá thụ động (hít khói thuốc do người nhà hút) nhưng phần còn lại nguyên nhân được các bác sĩ tìm ra  có thể là do khói gián tiếp từ quá trình nấu nướng chiên rán.

Nguy cơ ung thư còn có thể phụ thuộc vào loại thực phẩm được chiên rán. Một nghiên cứu ở Trung Quốc phát hiện. Những người hít khói chiên xào thịt mỗi ngày có nguy cơ mắc ung thư phổi cao gấp ba lần so với những người hít khói chiên xào các thực phẩm không phải là thịt. Điều này được cho là nhóm chất gây ung thư có tên gọi hererocyclic amine (HCAs) được hình thành khi mô cơ gặp nhiệt độ cao.

Một nghiên cứu khác gần đây trên phụ nữ có thai với phương pháp nướng thịt BBQ (barbecue) cho biết. Khi nướng thịt , hợp chất polycylic aromatic hydrocarbon (PHA) được tạo ra, và đó đó là một trong những chất ung thư có trong khói thuốc lá. Các nhà nghiên cứu đã phát hiện không chỉ ăn thịt nướng ở 3 tháng cuối kỳ mang thai có liên quan đến sinh con nhẹ cân. Mà những người phụ nữ mang thai tiếp xúc với khói thịt nướng thường xuyên có xu hướng sinh ra những đứa trẻ thiếu cân. Ngoài ra tiếp xúc với khói thịt nướng cũng liên quan đến việc đứa trẻ có kích thước đầu nhỏ hơn ( Một chỉ số về thể tích não). Thậm chí chỉ sống bên cạnh nhà hàng cũng có liên quan đến vấn đề sức khỏe. Vì khói từ quá trình chiên rán cá trên chảo được phát hiện có nồng độ PAH cao có khả năng phá hủy ADN của tế bào phổi.

Bỏ thuốc lá, mua sẵn thật nhiều bông cải xanh.

- Bỏ thuốc lá cho thấy hiệu quả rõ dệt là điều không còn phải bàn cãi nữa.Nhưng bông cải xanh ( Súp lơ) thì có tác dụng như thế nào? Để kiểm chứng hiệu quả của việc thay đổi chế độ ăn nhằm ngăn ngừa sự phá hủy ADN. Các nhà nghiên cứu đã tập hợp một nhóm những người hút thuốc lá lâu năm và yêu cầu họ ăn lượng bông cải xanh nhiều gấp 25 lần so với lượng ăn trung bình của người Mỹ. Tương đương với việc ăn 1 cây bông cải xanh/ngày. So với những người hút thuốc lá nhưng không ăn bông cải xanh, đột biến ADN trong máu của những người hút thuốc lá có ăn bông cải xanh giải 41% sau 10 ngày. Thậm chí khi ADN được trích xuất từ đối tượng nghiên cứu được biết và cho tiếp xúc với hóa chất gây tổn thương ADN, gene của những người ăn bông cải xanh ít bị hư hại hơn. Điều này cho thấy ăn rau họ cải như bông cải xanh có thể giúp cơ thể bạn có khả năng chống chịu tốt hơn tính  từ mức tế bào trở xuống.

Tuy nhiên bỏ thuốc lá vẫn là mục tiêu đầu tiên nếu bạn không muốn chết vì bệnh phổi. Lợi ích của bông cải xanh không chỉ có tác dụng với bệnh phổi, mà xuyên suốt cuốn sách tác giả luôn ưu tiên rau xanh họ cải. Nó các tác dụng với người bệnh ung thư vú. Giúp cơ thể tăng đề kháng... Việc ăn bông cải xanh hay một loại rau xanh nào đó hoàn toàn không có hại, mà chỉ có lợi tại sao chúng ta lại không ăn.

Lưu ý. Bông cải xanh sau khi cắt nhỏ nấu chín ngay sẽ bị mất chất quan trọng. Cách nấu đúng là bạn cắt nhỏ bông cải xanh và để chờ 40 phút sau hãy nấu, đây là chia sẻ của bác sĩ trong chương ẩm thực. Nếu bạn không có thì giờ chờ đợi thì giải pháp thay thế là sau khi nấu chín bông cải xanh hãy rắc một ít bột mù tạc lên bên trên đĩa rau. Bột mù tạc có tác dụng tái tạo lại dưỡng chất.

Cải xoăn (Cải kale) chọi với thuốc lá

Lại là một thực vật họ cải. Các nhà nghiên cứu đã phát hiện cải xoăn - loại rau lá xanh sẫm được mệnh danh" nữ hoàng của các loại rau" có thể kiểm soát cholesterol. Những gì mà cải xoăn có thể làm được là làm giảm đáng kể các cholesterol xấu (LDL) và tăng lượng cholesterol tốt (HDL) ngang với chạy bộ 300 dặm. Ở những người không hút thuốc lá khi ăn cải xoăn thì hoạt chất chống oxy hóa tăng lên. Nhưng ở những người hút thuốc lá khi ăn cải xoăn thì hoạt chất chống oxy hóa giữ nguyên không đổi. Điều này có nghĩa rằng các gốc tự do do thuốc lá tạo ra được cho là đã tích cực tập chung tiêu diệt các chất chống oxy hóa trong cơ thể.  Các nhà nghiên cứu nhận định rằng thói quen hút thuốc lá có thể xóa sạch  hiệu quả chống oxy hóa của 800 cốc nước ép cải xoăn. Đồng nghĩa rằng cại xoăn có tác dụng chọi với thuốc lá nhưng bỏ thuốc lá mới là điều cần thiết.

Công dụng ức chế chất gây ung thư của nghệ (Curcumin)

Curcumin đã được phát hiện chống lại hiệu quả của nhiều tế bào ung thư trong các ống nghiệm, gồm tế bào ung thư vú, não, máu, ruột kết, thận, gan, phổi và da. Vì lý do nào đó mà chúng ta vẫn còn chưa hiểu hết , dường như curcumin để yên cho các tế bào không bị ung thư. Thật không may cho đến nay nghệ chưa được thử nghiệm lâm sàng về khả năng ngăn ngừa hay điều trị ung thư phổi. Nhưng nó không có tác dụng phụ nào trong nấu nướng, nên nhiều bác sỹ khuyên nên đưa loại gia vị này vào chế độ ăn.

Trên đây là một số tổng hợp tổng quan về nguyên nhân của ung thư phổi  và một số vấn đề quan trọng để giúp chúng ta ngăn ngừa ung thư phổi nói riêng và các loại ung thư khác nói chung. Mọi nguồn gốc của ung thư đều từ đột biến tế bào do sự phá hủy ADN mà ra. Thật may mắn là mẹ thiên nhiên luôn có những biện pháp giải quyết vấn đề từ gốc. Ăn thực phẩm thực vật toàn phần sẽ là giải pháp tốt để ngăn ngừa ung thư. Lưu ý phải là thực vật toàn phần mới có hiệu quả. Ví như ăn táo phải ăn cả vỏ và phải là táo hữu cơ. Còn thực phẩm chức năng tuy được chiết suất từ thực vật nhưng lại không có tác dụng gì nhiều . Có lẽ do những dưỡng chất cần thiết để kích hoạt tác dụng đã bị loại bỏ. Có rất nhiều thông tin hữu ích về sức mạnh chữa lành của thực phẩm trong cuốn sách dày hơn 600 trang mà tôi không thể truyền tài hết trong vài giờ gõ phím. Quý vị nên mua cuốn sách này nếu như muốn hiểu cặn kẽ vấn đề. Những số liệu phân tích, dẫn chứng cụ thể được bác sĩ Michael Greger nói rất kỹ. Tôi sẽ dẫn dần cập nhật những gì tôi thấy hữu dụng với bản thân tôi trước. Quý vị có thể đọc tiếp các bài tới , lưu ý đây chỉ là những điều cá nhân tôi thấy nó đúng với tôi. Điều đó không có nghĩa là nó đúng với mọi người. Mọi thông tin về y tế, dinh dưỡng đều cần phải được bác sĩ chỉ dẫn. Quý vị cần tham khảo ý kiến nhiều nguồn trước khi quyết định sử dụng thực phẩm nào. ( Còn tiếp)

Bổ sung lợi khuẩn nào để phục hồi đường ruột

Nếu bạn đang gặp các vấn đề đường ruột, rối loạn tiêu hóa. Bạn cần bổ sung lợi khuẩn để phục hồi đường ruột, hãy dành chút thời gian tìm hiểu để bổ sung đúng loại lợi khuẩn cho mình.

Khi tìm kiếm các chế phẩm sinh học, bạn có thể thấy hàng tá sản phẩm. Chúng khác nhau về nhãn hiệu, thành phần, dạng chế phẩm (từ si-rô, thuốc viên, bột đến chất lỏng),...

Điều khác biệt cần chú ý nhất là “thành phần” - “chi, loài, chủng” của lợi khuẩn có trong đó. Mỗi chủng sẽ có tác dụng rất khác nhau.

Các chủng lợi khuẩn (probiotics) phổ biến trong đường ruột

Trong ruột con người có chứa khoảng 100.000 tỷ vi khuẩn gồm hơn 500 loài khác nhau. Lợi khuẩn thường chiếm 85% tổng lượng vi sinh vật đó với số lượng đông đảo. Tuy nhiên, có 3 loại lợi khuẩn phổ biến, đó là:

Khuẩn Bifidobacterium: đây là khuẩn thường được sử dụng trong thực phẩm và chế phẩm bổ sung. Bifidobacterium tiết dịch nhầy bao phủ thành ruột và tạo thành lớp lá chắn khỏi tác nhân gây hại. Chúng còn có tác dụng hỗ trợ hệ miễn dịch, hạn chế sự phát triển của hại khuẩn, đồng thời tiết ra enzym tiêu hóa và tăng cường khả năng hấp thu dinh dưỡng từ thức ăn.

Khuẩn Lactobacillus: đây là khuẩn được ứng dụng phần lớn trong chăn nuôi với mục đích bảo vệ hệ tiêu hóa vật nuôi. Lactobacillus sinh ra acid lactic, tạo ra nhiều chất kháng khuẩn như acid hữu cơ, diacetyl, hydrogen peroxide và bacteriocin, nhờ đó ngăn chặn và ức chế sự phát triển của các vi khuẩn gây hại. Đặc biệt, loại khuẩn này còn có tác dụng phân giải và chuyển hóa lactose thành acid lactic, hạn chế dị ứng của “hội chứng không dung nạp Lactose” (người mắc hội chứng này khi dùng các chế phẩm từ sữa sẽ bị tiêu chảy).

Khuẩn Bacillus: đây là khuẩn được ứng dụng rất nhiều trong công nghệ “bào tử lợi khuẩn” đang được ưa chuộng hiện nay để cải thiện sức khỏe đường ruột con người, ngoài ra, chúng cũng được ứng dụng rất nhiều trong chăn nuôi thủy hải sản. Dòng bacillus có khả năng cạnh tranh nguồn dinh dưỡng và không gian sống, đồng thời tiết ra kháng sinh tiêu diệt hoặc gây ức chế tới các loại vi sinh vật có hại khác.

Ưu việt của chủng Bacillus

2 loại probiotics (lợi khuẩn) là bifidobacterium và bacillus đã được ứng dụng phổ biến trong hỗ trợ điều trị các vấn đề đường ruột của con người. Mặc dù khuẩn Bifidobacterium được sử dụng nhiều hơn cả, nhưng Bacillus lại đang khẳng định vị thế của nó.

Bifidobacterium thường được cấy thêm trong thực phẩm là sữa chua, sữa chua uống,... và các chế phẩm men vi sinh. Tuy nhiên, vấn đề lớn nhất gặp phải ở loại khuẩn này là làm sao đảm bảo số lượng lợi khuẩn sống sót tới được ruột. Bifidobacterium kỵ khí, nhạy cảm với oxy nên cần có công nghệ sản xuất hiện đại, quy trình kỹ thuật đặc biệt trong quá trình sản xuất. 

Ngay cả khi chúng tồn tại ở dạng bào chế thì vẫn khó đảm bảo được toàn vẹn số lượng lợi khuẩn khi tới ruột bởi chúng còn phải đi qua môi trường axit của dịch vị dạ dày. Thực tế nghiên cứu cũng cho thấy số lượng Bifidobacterium giảm rõ rệt tại ruột.

Bacillus là dòng lợi khuẩn có “sức sống tốt”, chịu được pH acid rất tốt, kháng được nhiều loại kháng sinh và hóa chất nên chúng có thể an toàn sống tốt qua dạ dày, đến ruột và nảy mầm. 

Ngoài ra, đây còn là chủng có hoạt tính mạnh, đa tác dụng. Bacillus tạo màng chắn phủ niêm mạc ruột ngăn chặn hại khuẩn xâm lấn. Nó cũng kích thích tổng hợp vitamin và enzym tốt cho tiêu hóa và hấp thu dinh dưỡng, kích thích cơ thể tổng hợp các tế bào miễn dịch và tăng cường đề kháng. Nhờ vậy nó đảm bảo số lượng lợi khuẩn sống sót tại ruột.

Gợi ý: Sử dụng mật ong lên men để bổ sung lợi khuẩn cho người lớn và trẻ em trên 1 tuổi. Mật ong lên men không chỉ cung cấp lợi khuẩn mà còn có tác dụng điều trị bệnh được dùng trong đông y.